Search
Trang chủ » Tư duy, định kiến, thành kiến

Tư duy, định kiến, thành kiến

Tư duy là tiến trình nhận thức, học hỏi, tìm kiếm những đáp án cho con người về các vấn đề của nó. Định kiến là những quan điểm, đánh giá, bao gồm cả tích cực lẫn tiêu cực, về nhân sinh và sự vật, mọc rễ trong tâm tưởng, rất khó thay đổi, vì hết sức chấp nhất, cứng đầu. Thành kiến, chỉ gồm toàn những phán đoán tiêu cực, ăn sâu trong tiềm thức, còn cố chấp hơn định kiến. Khác nhau là thế, nhưng cả ba đều được hình thành từ lịch sử cá nhân, diễn tiến của môi trường sống tập thể, và hệ sinh thái cộng đồng.

Tư duy, định kiến, thành kiến tập hợp lại thành những bộ lọc, còn gọi là lăng kính. Hiểu theo nghĩa là thực tế, thực tại luôn luôn được tiếp nhận bởi con người thông qua hai bộ lọc-lăng kính đồng thời: trình độ tư duy và mức độ định kiến, thành kiến. Và vấn đề là như sau: tư duy có trình độ càng cao sẽ càng tinh tế, khoáng đạt. Nhưng định kiến, thành kiến có mức độ càng cao thì càng hồ đồ, cứ nhất quyết lấy bản thân mình làm trung tâm.

Biết là vậy, nhưng tại sao con người lại cần vừa tư duy vừa định kiến vừa thành kiến? Dễ hiểu: vai trò của định kiến và thành kiến là giúp con người đỡ phải vận dụng tư duy mọi lúc mọi nơi. Bởi chỉ cần dựa vào định kiến và thành kiến là đủ để hành xử theo quán tính, máy móc, cơ học, không cần trăn trở trầm tư cho mệt não. Tương tự như chức năng của những shorcuts / lối dẫn tắt trong các hệ điều hành của máy tính, giúp người dùng truy cập nhanh mà không cần phải qua các thao tác rắc rối, nhiêu khê. Do đó, nếu rất nhiều người thích shorcuts / lối dẫn tắt khi sử dụng máy tính thì cũng có vô số người chuộng sống ở đời bằng định kiến và thành kiến cho nhẹ óc, đỡ phải động não lăn tăn thêm phiền.

Hẳn vì vậy mà nhà kinh tế học John Maynard Keynes (1883-1946), cha đẻ của thuyết kích cầu, đã có một ghi nhận sâu sắc: «Khó không phải là hiểu những ý tưởng mới, mà khó là thoát ra khỏi những định kiến cũ».

Và điều đáng nói ở đây là: sự phân biệt giữa các phạm trù lý tính và cảm tính, khách quan và chủ quan, thoạt ngỡ là đầy sự suy xét sắc bén của tư duy, thực chất lại tràn lan biết bao định kiến và thành kiến.

Tỉ như sự phân biệt giữa định lượng và định tính: lĩnh vực trước thường được cho là khách quan và lý tính, lĩnh vực sau hay bị chê là chủ quan và cảm tính. Chỉ cần lên Google gõ câu «đặc điểm của định lượng và định tính» sẽ có ngay lời phê phán kiểu đinh đóng cột trên. Phổ biến, trên mạng lẫn ngoài đời, đến mức được mặc định như lẽ đương nhiên, không cần bàn cãi.

Tào lao vô cùng. Bởi khởi xuất từ điều được gọi là sự mê tín đối với các con số. Chẳng ngẫu nhiên mà ngay ở Âu Mỹ đã có câu «bất kể con số nào cũng đều tốt hơn là không có con số nào cả» («any number beats no number»). Ấy là còn chưa nói đến niếm tin kỳ quái về «con số tự nó biết nói» («the figures speak for themselves»). Làm như thể chỉ cần trưng bày vài con số là mọi chuyện thành hết sức rõ ràng. Khôi hài đến độ văn hào Mark Twain (1835-1910) phải châm biếm : «giường là chỗ nguy hiểm nhất thế giới, bởi 99% người ta chết ở đấy».

Con số, tự riêng nó, không thể minh định chắc chắn điều gì. Vì con số không chỉ được diễn giải bởi bối cảnh, ngữ cảnh, mà còn bởi người truyền bá và tiếp nhận nó. Đơn giản: khi tôi được thông tin là, chẳng hạn, mức độ chết người gây ra do Covid, được cho là ở Ý cao hơn gần 25% so với ở Đức, điều đó, hoàn toàn không nhằm nói rằng con virus kỳ thị chủng tộc và biết phân biệt đối xử khi nó vượt biên giới nước này sang nước kia…

Chính vì hiểu rằng tự thân con số không biết nói mà phải làm cho nó nói điều mình muốn nói nên mới có ngành nghề chuyên môn trong Marketing & PR mang tên «Kể chuyện bằng Con số / Data Storytelling». Chủ đích là nhằm thuyết phục và định hướng cử toạ bằng những con số và dữ liệu được trình bày trong kịch bản nhắm đến «3E: Explain, Enlighten, Engage», nghĩa là «Giải thích, Soi rọi, Dẫn dắt». Chính xác là khai thác định kiến của con người về sự gọi là khách quan và lý tính của các con số để đưa đẩy họ đến chuyện mong muốn. Thí dụ, khi tôi tin vào thống kê được quảng bá cùng khắp bởi một tổ chức nổi tiếng rằng 72,8% giới trung lưu ở thành phố có xu hướng ngày càng gia tăng việc đi nghỉ dưỡng ở nước ngoài, thì tôi, cho là mình thuộc giới đó, không thể nào để «thua chị kém em» được. Vậy là a lê hấp thắt lưng buộc bụng ráng mà thành du khách quốc tế khoe ảnh check-in ở nước này nước nọ. Tóm lại, tôi dễ dàng bị điều kiện hoá hành vi khởi nguyên bởi ám ảnh một con số mà tôi cho rằng đầy tính khoa học và nghiên cứu, được khảo sát công phu.

Từ đấy, mới rõ vì sao lĩnh vực tài chính, chứng khoán, ngân hàng, vốn là chốn vẫn thường gọi là bị ngự trị bởi các số liệu lạnh lùng, lại được giới chuyên gia đặt tên là thị trường của hình ảnh / images market. Bởi đó là nơi mà Quản lý Quan hệ Đầu tư (Investor Relations Management)Dịch vụ Chiêu thị Tài chính (Financial Services Marketing), chuyên dựa vào các phương thức Chế định hoá Ý nghĩa của các Số liệu và Dữ kiện (Digit and Facts Conditioning) để truyền tải và minh hoạ những câu chuyện thành công rực rỡ và vang dội, theo hướng top này top nọ, ông lớn bà to, siêu ấy siêu kia, nhằm xác định tiếng tăm, vị thế của mình và lôi cuốn khách hàng.

Đối với thành kiến về phương thức định tính, nếu hiểu chủ quan là tự cho mình đúng, không chấp nhận ý kiến của người khác và cảm tính là để cho cảm xúc thao túng, thì quả là rất đáng bị lên án. Nhưng định tính đích thực đúng nghĩa, hiểu theo ý là để được nhìn nhận như phương pháp luận học thuật ứng dụng, lại không thể như vậy vì bắt buộc phải dựa vào những dạng thức tiếp cận và phân giải đã được xác minh và chuẩn hoá trong kinh tế học, xã hội học, tâm lý học, nhân chủng học, luật học, văn hoá học, luận lý học, quản trị học, đạo đức học, hành vi học, sử học, khảo cổ học, v.v… Tóm lại là phải có lớp lang, bài bản, qui tắc, ước định, nói có sách mách có chứng. Chứ không cứ thế mà loạn ngôn, ba hoa chích choè, ba xí ba tú, dẻo mồm dai miệng, vốn chỉ lôi kéo được những cử toạ rất sính mì ăn liền, cháo nấu sn, súp húp ngay, khách hàng quen thuộc của văn hoá đóng hộp, mau tiêu, dùng gọn, lại thêm dễ nổ banh nóc, bung tung càng.

Kết lại, để tư duy thật sự được khai phóng, tạo nền tảng cho hành động đúng đắn và hữu hiệu, cần phải hết sức tỉnh táo và cảnh giác với những định kiến và thành kiến của chính bản thân mình. Bởi, chẳng ai là tuyệt nhiên không có mảy may định kiến lẫn thành kiến. Tuy nhiên, khi mình ý thức về hậu quả của những lăng kính và bộ lọc nằm ngay trong não trạng của chính mình, mình sẽ đỡ bị thiên lệch trong việc nhìn nhận thực tại bao quanh mình và thực tế mà mình đang sống. Nhất là mình sẽ bớt ảo tưởng về chính mình và giảm ảo giác về người khác. Mong là thế.

Nếu không, thị trường và cộng đồng xã hội sẽ bị phân hoá cực kỳ do hai dạng người, hai loại tổ chức: một bên miệt mài trau dồi tư duy và cố gắng giảm thiểu tác hại của định kiến, thành kiến. Một bên lại không chỉ vô tư, thậm chí thoải mái, với định kiến, thành kiến của mình mà còn tự hào với những diễu võ giương oai «lon ton học mót coi trời bằng vung». Đường dài, rốt cuộc, còn lại ai thì ngay trước mặt đã khá rõ…

 

BÌNH LUẬN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN

(*) Thông tin bắt buộc

ĐĂNG KÝ THEO DÕI SULECO

Để cập nhật các thông tin tuyển dụng sớm nhất tại Suleco, hãy đăng ký theo dõi ngay tại đây.

image image image
imageFacebook imageZalo image0901 494 233
image